Làm việc theo nguyên lí

Nguyên lí là một từ  được dùng rộng rãi, có lẽ do nhiều người thấy nó quan trọng.  Nhẽ ra nguyên lí phải có tính khách quan (tức là cái gốc, không thể bỏ được), nhưng  hầu hết các thứ được gọi là nguyên lí lại có tính tương đối, không đầy đủ và có tính bối cảnh. Vì thế có thể gọi chúng là hệ “tiên đề” hay các “giả định” của ai đó. Khi đã gọi nguyên lí theo nghĩa giả định (assumptions) thì tức là niềm tin cơ bản, miễn phán xét đúng sai. Ta sẽ làm theo nó, chấp nhận nó, và tự nguyện để nó điều khiển mình. Và do đó, nó rất quan trọng và có tầm ảnh hưởng lớn tới cuộc sống của ta. Số lượng nguyên tắc thường không nhiều. Nhưng nó “cứng”, vượt thời gian. Cho nên, nếu có một danh sách nguyên lí đủ tốt, nó giúp ta làm việc linh hoạt trong bối cảnh. Nó giúp ta “lấy cái bất biến để ứng phó với cái biến động đa dạng”.

Nhiều người thông thái đã cất công đúc rút và kiểm nghiệm ra các bộ nguyên lí của riêng mình. Một số được đẽo gọt và kiểm chứng qua thời gian với nhiều bối cảnh đa dạng, một số thì không. Một số được viết ra, một số chỉ được truyền miệng. 
Ví dụ, đời làm việc năng động của Inamori Kazuo giúp ông đưa ra được một “triết lí” ngắn gọn và hữu hiệu để làm nền tảng cho một lối sống tích cực (Xem bản tóm tắt ở đây) . Nó được viết ra, lưu truyền rộng rãi và có cơ hội tốt để kiểm chứng tính hữu hiệu. Thử xem những gợi ý của ông để có một cuộc đời viên mãn và làm việc cho tốt: 

  1. Thành quả là do tích số của tư duy, nhiệt tình và năng lực
  2. Tư duy thế nào, cuộc đời ra thế ấy
  3. Luôn nuôi những giấc mơ đầy tham vọng, và bỏ toàn tâm toàn ý sống với giấc mơ ấy.
  4. Luôn xác định rõ mục đích sống. Phải mài rũa tâm trí, mở rộng tâm hồn.
  5. Hãy sống đúng đắn với tư cách của một con người. Đừng quên những bài học được dạy từ tiểu học: không nói dối, trung trực, không lừa gạt người khác, không tham lam.
  6. Phục vụ những điều tốt đẹp hơn của nhân loại và thế giới với tâm thức vị tha.
  7. Sống phản tỉnh mỗi ngày, để xem xét từng hành vi, sửa lỗi và cải thiện.
  8. Sống nghiêm túc từng giây phút mỗi ngày.
  9. Sống với động cơ không ích kỉ, và đức hạnh.
  10. Sống với một trái tim thuần khiết và nồng ấm.
  11. Luôn yêu công việc của bạn, không kể đó là việc gì. 
  12. Không nề hà những việc tẻ nhạt
  13. Luôn sáng tạo trong công việc
  14. Hãy là “trung tâm của cơn lốc” với sáng kiến và cam kết hết mình.
  15. Ra quyết định đúng đắn, không ích kỉ
  16. Bám sát hiện địa, hiện vật để giải quyết vấn đề
  17. Làm hết sức mình vì đồng nghiệp
  18. Không ngừng vươn tới sự hoàn hảo
  19. Chỉ mua những gì chúng ta thật cần, đúng lúc
  20. Nắm bắt vấn đề thật đơn giản, ngay cả khi đối mặt với những thứ phức tạp

Nhìn quanh, tôi nhận ra phần lớn người đọc bộ “nguyên lí” này thấy nó gần gũi và dễ đồng tình. Nhưng cũng có vài người có thể không đồng ý với một trong các điểm kể trên. Họ có thể thấy phần còn lại hữu dụng thì có thể bỏ đi vài chỗ, hoặc sửa đi cho vừa với lối nghĩ của bản thân. Nếu ai đó bỏ gần hết thì tức là hệ tư duy của người đó rất khác so với Inamori. Lúc đó, họ sẽ đi tìm những bộ “bí kíp” khác. 

Nhìn rộng ra, bộ nguyên lí trên đây có thể coi là một tập hợp các giả định để gây dựng nên một tập hợp người có nền tảng nguyên tắc giống nhau về lối nghĩ lối sống. Nó tạo ra một cộng đồng văn hóa chung niềm tin, chung hệ giá trị, chung quy ước. Sẽ rất có ích khi một cộng đồng được gắn kết xoay quanh những yếu tố văn hóa chia sẻ như thế này. 

Trên đường học hỏi của mình, ta sẽ bắt gặp nhiều “guru”, những “cao thủ”, những “danh nhân”, với nhiều bộ “nguyên lí khác”. Họ sẽ có những lời khuyên, trong số đó là các “nguyên lí”. Câu hỏi được đặt ra là có nên theo hay không, theo cái gì và không theo cái gì? Từ quan điểm hành dụng (pragmatic), chúng ta xem xét nó có hữu ích không bằng cách đặt câu hỏi: nếu tin và làm theo thì thế nào? Giả sử nếu tuân thủ nguyên tắc “sống với trái tim thuần khiết và nồng ấm” thì thế nào? Cuộc sống ta có tốt đẹp lên không, thế giới quanh ta có tốt đẹp lên không? Nếu tuân thủ “phục vụ những điều tốt đẹp hơn với tâm thức vị tha”, thì thế nào? Nó có mang lại cuộc sống hạnh phúc viên mãn không? Cân nhắc xong, ta có thể có một danh sách “nguyên lí” của riêng mình. Thời gian tiếp theo là dành cho chứng nghiệm. Bạn sẽ phải sống với những nguyên lí này, và quan sát tác dụng của chúng. 

Bới cát tìm sò

Tôi cũng thử phác thảo về bộ nguyên lí tối giản của mình “Để làm việc cho tốt”, nó sẽ hao hao như thế này:

  1. Luôn yêu công việc của bạn, dù đó là việc gì.
  2. Có thái độ tốt, công việc sẽ tốt, kể cả những việc rất tẻ nhạt.
  3. Cách bắt đầu một công việc tốt là tìm cách giải quyết vấn đề của chính mình.
  4. Đặt được bài toán hay, sẽ có lời giải hay. 
  5. Làm cho vấn đề thật đơn giản, ngay cả khi nó rất phức tạp
  6. Là “chủ sở hữu” của sáng kiến và cam kết hết mình, và sống ở thể chủ động (proactive). 
  7. Bám sát thực tiễn để ra quyết định hiệu quả.
  8. Ra quyết định đúng đắn, không ích kỉ
  9. Sáng tạo không ngừng
  10. Cải tiến liên tục, vươn tới sự hoàn hảo
  11. Nghỉ ngơi cũng quan trọng không kém bận rộn.
  12. Khi đã mất hứng với một công việc, nghĩa vụ cuối cùng là bàn giao lại cho người có nhiệt tình và khả năng.

Nguyên tắc của bạn để làm việc cho tốt gồm những gì?

Nguồn: duongtrongtan.com

Tiếp nhận và học hỏi từ phê bình

Ít ai lại thích bị phê bình, nhưng sự tiến bộ của bản thân mỗi người lại phụ thuộc không ít vào sự tiếp nhận sự phê bình từ những người xung quanh. Việc này thực ra có thể đã diễn ra rất thường xuyên và tự nhiên khi ta còn nhỏ. Quét nhà không sạch, bị mẹ rầy la; ta sửa lại cách quét cho nó sạch. Nấu cơm bị nhão, mẹ mắng; ta rút kinh nghiệm để lần sau cho bớt nước đi. Ta không lăn tăn về “thiện chí” của mẹ. Mẹ chỉ cần đưa ra phản hồi, và ta sửa. Ta không đánh giá xem lời “góp ý” của mẹ có mang tính xây dựng hay không. 

Nhưng lớn lên rồi, hình như ta lại hành xử hơi khác với những lời phàn nàn về chất lượng công việc của mình. Khách hàng phàn nàn về chất lượng sản phẩm. Ta bảo cô này khó tính thay vì xem có thể cải tiến điều gì. Đồng nghiệp kêu mình ồn ào quá, để im cho cô ấy làm việc. Ta nói cô này khó ở thay vì tự vặn nhỏ “volume” và bớt nói đi. Sếp mắng cho vì sản phẩm chưa tốt. Ta lại nói ông sếp này không ghi nhận nỗ lực của bản thân, thay vì xem nó kém chất lượng ở đâu và sửa đổi.

Chúng ta sợ mất mặt. Chúng ta đổ lỗi ra phía ngoài. Chúng ta đánh giá thiện chí của người đưa ra lời phê bình. Chúng ta bỏ luôn khách hàng, bỏ luôn mối quan hệ với đồng nghiệp, và bỏ luôn sếp mà đi. Tình trạng trên đây là do chúng ta đã cấu hình vào trong não bộ một tráng thái tư duy đông cứng (fixed mindset) mà không biết. Hậu quả là chúng ta mất khách, mất sự yêu mến của đồng nghiệp, mất đi sự tôn trọng của sếp. Và chúng ta cũng mất luôn một cơ hội để có một phiên bản tốt hơn của bản thân. Tự ta đánh mất chứ không ai cướp đi. 

Để tránh rơi vào tình trạng này, chúng ta có thể nhớ lại bài học khi nhỏ. Cài đặt lại tư duy để nó mở cửa đón chào các phê bình. Tập cách lắng nghe các phê bình, tập cách chọn lọc chúng, và phản hồi một cách tích cực nhất. Cái nào đúng thì tiếp thu, cái nào không thì nhẹ nhàng nói lại cho rõ hoặc thậm chí cứ lờ đi, nhưng luôn lắng nghe và chào đón cùng với lòng biết ơn người đã nói cho ta biết suy nghĩ của họ về chất lượng công việc của mình. Đấy cũng là một cách thực hành biết ơn người, biết ơn đời. 

Nhưng đấy là “chủ trương”, đường lối. Còn vào thực hành hằng ngày, có thể phải tập luyện mất thì giờ chứ chẳng chơi. Mỗi khi nghe thấy chỉ trích, đừng phản ứng, kể cả trong đầu. Nghe đã. Kiểm soát được phản ứng, coi như thành công một nửa. Tiếp theo, tự nhủ “đây là cơ hội để học hỏi”, không đánh giá thái độ người hỏi, dù họ có đang có vẻ lồi lõm nhấp nhô trong nét mặt hoặc giọng nói hoặc điệu bộ. Đặt câu hỏi về điều góp ý, chỗ nào đúng, chỗ nào sai nếu bạn chưa hiểu. Tự hỏi, nguyên nhân ở đâu, mình sẽ cải tiến cái gì. Hỏi thêm thông tin, vì có thể bạn chưa biết đủ thông tin, cũng như chưa nắm được cái toàn thể nên khi làm việc chưa đạt kết quả như yêu cầu, hoặc lệch hướng do hiểu sai yêu cầu. Dành thêm thời gian để xử lí phê bình, và có trách nhiệm giải trình nếu bạn đã có cam kết. 

Những việc rèn khả năng lắng nghe lời nghịch nhĩ có lẽ đòi hỏi nỗ lực nhất định, nhưng nó đáng, vì nó sẽ giúp ta trưởng thành lên. Số lượng phê bình được tiếp thu hoàn toàn có thể tỉ lệ với sự trưởng thành của bản thân. 

Nguồn: duongtrongtan.com

Đọc một cuốn sách thực hành

Triết gia Mortimer Adler có một cách phân loại sách phi hư cấu rất có ích cho việc đọc trong sách “How to read a book” (Phương pháp đọc sách hiệu quả). Theo đó, sách có loại sách thực hành và sách lí thuyết.

Sách lí thuyết tự nó giải quyết được vấn đề mà không cần động chân động tay. Có thể sách sẽ chứa mấy công thức, đưa đầu vào thế là ra kết quả; hoặc chỉ cần dùng đầu óc để thu nạp các thông tin mang tính phổ quát, các quy luật của tự nhiên và xã hội mang lại sự hiểu biết tức thì. Sách lịch sử, khoa học , toán học, và triết học thuộc loại này. Đọc sách lí thuyết vì thế có thể khô nhưng lợi hại ngay tức thì. Ví dụ, đọc cuốn sách “Lược sử loài người” của Yuval Harari ta có ngay được một bộ tiêu chí để trả lời câu hỏi “tính người là gì?”, hay biết ngay tác dụng của các “trật tự tưởng tượng” (như nhà nước, thị trường,…) đối với đời sống. Đọc cuốn triết học giáo dục “Dân chủ và giáo dục” của John Dewey giúp ta nắm bắt được ngay sự liên quan mật thiết giữa nội dung và phương pháp trong giáo dục, như thế nào là một mục tiêu tốt…, mà không cần phải làm gì thêm.

Một cuốn sách lí thuyết

Sách thực hành thì ngược lại, phải nhờ đến hành động trong thực tiễn thì sách mới có tác dụng. Kết quả của hành động có thể lúc nóng lúc lạnh, lúc ngon lành lúc tậm tịt, phụ thuộc bối cảnh, vào trình độ vận dụng của người thực hành. Vì thế sách thực hành có thể nhàn lúc đọc, nhưng lâu tiêu hóa, và việc hiểu nó đến đâu còn do “ngộ tính” và may mắn của của người đọc nữa. Sách về quản trị, sách self-help và phần lớn sách chúng ta đọc hằng ngày đều thuộc loại sách thực hành. Nó đòi hỏi bạn đọc phải hành động mới biết được sách đó là thực sự hiệu quả hay không vì  bản thân nó không thể tự mình giải quyết những vấn đề mà nó nói đến.
Đọc sách (phi hư cấu) là một hoạt động học tập, do đó việc tiếp xúc với sách mới chỉ là điểm bắt đầu. Quá trình tiêu hóa sau đó thông qua hoạt động phản tư, chứng nghiệm, vận dụng, mới giúp người đọc đi hết vòng trải nghiệm của cuốn sách.  

Một cuốn sách tự lực tiêu biểu

Cùng một cuốn sách (được cho là) hay, chẳng hạn như cuốn Đắc Nhân Tâm, mười người Việt Nam đọc, kiểu gì cũng có hai ba người tấm tắc khen, đôi ba người bực mình ném lên Facebook dòng status “đồ giấy lộn”. Nhưng có khi cả người khen và chê đều chưa chứng nghiệm điều Dale Carnegie viết trong sách, tức là họ chưa thực sự trải nghiệm cuốn sách. Nói theo Adler thì là chưa thật sự đọc cuốn sách ấy. Cuốn này thuộc thể loại sách self-help tức là tự lực, tự giúp mình. Đọc sách này là để tự giúp mình. Ta tìm đến sách self-help là để biến đổi bản thân, “đáp ứng một nhu cầu nào đó”, “giải quyết một vấn đề nào đó”, chắc chắn không phải chỉ để xem sách có hay như đồn thổi hay không. Đọc sách tự lực không phải để giải trí, thậm chí người ta cũng không nên tìm đến loại sách này để chữa lành, hay nâng cao tinh thần. Công dụng của sách ít khi thần kì như vậy, nếu như chưa “động chân động tay”. Thường thì người ta tìm đến sách tự lực để tự giúp mình thông qua việc tìm cái gì đó để thực hành và tự mình biến đổi. Vậy là nếu không đọc đúng cách, nhất là đối với sách thực hành (đọc sách thực hành mà lại không hề tiếp thu chọn lọc qua đường thực hành), thì cũng không thể tự giúp lấy mình được, sách không thể phát huy tác dụng được.

Cuốn “Đắc nhân tâm” kể trên chứa đựng đầy những lời khuyên rất cụ thể, phải làm thế này, nên làm thế kia. Nó cũng giống như sách dạy nấu ăn, công thức rất rõ ràng. Ta gọi sách thực hành loại này là sách “quy tắc”. Nhưng sách thực hành không phải lúc nào cũng cụ thể như thế. Có những sách khác chỉ chứa nguyên lí, ví như “Đạo đức kinh” của Lão Tử, hay “Triết lí Kinh doanh Kyocera” của Inamori Kazuo. Các sách này cũng là sách thực hành, nhưng nó lại nói các vấn đề chung, những thứ mang tính nguyên tắc phổ quát, vì thế đòi hỏi phải đọc kĩ hơn, có chút xử lí trong đầu trước khi mó tay vào hành động. Nếu ta gọi nhóm “Đắc nhân tâm” là sách quy tắc, thì loại sách thứ hay này là chứa nguyên lí để làm ra quy tắc. Ta phải vận dụng nguyên lí, để từ đó đề xuất ra quy tắc, rồi mới áp dụng được vào thực tiễn.

Một cuốn sách thực hành, hướng dẫn kĩ năng rất “cứng” là kĩ năng đọc.

Ví dụ, nhà quản trị cầm sách “Triết lí kinh doanh Kyocera” lên và đọc được nguyên lí gói trong công thức mà tác giả gọi là Công thức cuộc đời. Công thức được viết ra: Thành tựu = Tư duy * Nhiệt tình * Năng lực; với giá trị của từng tham số Tư duy từ -100 đến 100, Nhiệt tình từ 0-100; Năng lực từ 0-100. Người đọc không dễ gì vận dụng được ngay. Để vận dụng được, nhà quản trị buộc phải nghĩ ra tiếp một thang đo thế nào là tư duy -100 điểm, khi nào thì tư duy được đánh giá 10 điểm, khi nào thì tư duy được đánh giá 100 điểm, vì sao? Tương tự như thế với Nhiệt tình, và Năng lực. Như thế là từ nguyên lí, nhà quản trị đã xây dựng được thêm một bộ quy tắc để áp dụng nguyên lí này vào thực tiễn.  Xong rồi nhà quản trị lại phải tiếp tục đặt ra tình huống khi nào thì sử dụng công thức kia: dùng cho mình hay cho nhân viên đang làm việc, hay nhân viên tiềm năng đang tìm việc ở công ty, hay nhân viên chuẩn bị được thăng chức. Từng tình hống như thế sẽ đòi hỏi phải đánh giá lại nhân sự có sử dụng công thức kia. Đó chính là cách “đọc” một nguyên lí. Nó bao gồm việc nắm bắt nguyên lí đó, hiểu sâu nó để đề xuất ra được một loạt “quy tắc”, và rồi đưa vào các “tình huống” vận dụng công thức đó.

Sách “triết lí”, hay sách “nguyên lí”

Đọc sách nguyên lí, rõ ràng là mất công hơn, nhưng vì nó là cái “máy cái”, chính nó sẽ đẻ ra thiên biến vạn hóa các quy tắc để áp dụng vào thực tiễn đa dạng. Đôi khi, để nuốt được những sách loại này ta cần phải viện đến các ông thầy giảng giải cho chứ không thể “tự nhiên” như loại sách thực hành dạng quy tắc. Nếu đọc đúng và hiệu quả loại sách nguyên lí, lợi ích là vô cùng to lớn. Nhưng nếu đọc không đúng cách, ta dễ có cảm giác sách đó “lí luận suông”, “sáo rỗng”, “nói những điều hiển nhiên” (vì nó suông thật, làm gì có công thức nào để mà áp dụng ngay và luôn?), và vô dụng. Nhưng có lẽ, nó không vô dụng vì nó sai, mà nó vô dụng vì người đọc chưa thể tương tác với nó.

Những người có tinh thần tự lực cao thì dễ đọc sách thực hành đúng cách hơn. Người đó sẽ tự thấy việc mình chưa học được cách thay đổi bản thân ngay cả khi đọc được sách được cho là quý, chứ không quy trách nhiệm cho tác giả cuốn sách. Khi đó, người đọc sẽ chịu khó tìm hiểu hơn, hỏi han người đi trước, các bậc thầy để “vỡ bài cho bằng được” chứ không sớm ném sách vào sọt rác. Cho nên, để đọc được nhiều sách thực hành và có lợi lạc, thì người đọc cũng phải tự rèn cho mình tinh thần tự lực, cùng với cách thức đọc sách cho thành thục trước đã.

Nguồn: duongtrongtan.com